Ưu và nhược điểm của sâm tươi Hàn Quốc? Nhân sâm có công dụng làm đẹp gì?

Sâm hàn quốc là vị thuốc bổ đứng đầu trong các loại thuốc bổ. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại sâm từ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Siberia, Hàn Quốc, và sắp tới còn có sâm Việt Nam. Từ ngàn năm qua, nhân sâm được xem là thuốc “trường sinh bất lão”. Theo y học cổ truyền, sâm giúp bổ ngũ tạng, chủ yếu là phế, tỳ, đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, định thần, ích trí.

Ưu và nhược điểm của sâm tươi Hàn Quốc

Các công trình nghiên cứu ở Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ và các trường phái Tây y đã chứng minh nhân sâm là chủ được điều trị bệnh nhân ung thư và những người mệt mỏi, lo lắng, cảm cúm, kém ăn, giúp hạ đường và cholesterol trong máu, cải thiện tuần hoàn, hô hấp, làm tăng chuyển hóa cơ bản. Nhân sâm có chứa ginsenoside có khả năng kích thích hoặc làm dịu hệ thần kinh, cân bằng các quá trình trao đổi chất, giảm lượng đường trong máu, cải thiện trương lực cơ và kích thích hệ nội tiết.

Nó tăng cường nội tiết tố vỏ thượng thận của não (ACTH). Nghiên cứu cho thấy nhân sâm có hiệu quả trong việc duy trì và khôi phục khả năng của tế bào và do đó có thể được coi là có thể làm chậm quá trình lão hóa. Nhân sâm là một “adaptogen” hỗ trợ chức năng của cơ thể, tăng sức đề kháng, giúp giảm căng thẳng và stress.

Một số lợi ích của nhân sâm

– Giảm ngộ độc rượu: vì làm giảm sự hấp thu qua dạ dày, nhân sâm giúp máu không hấp thu cồn.

– Phòng bệnh Alzheimer: nhân sâm giúp cải thiện trí nhớ và hành vi. Nên phối hợp với Bạch quả để gia tăng tác dụng.

– Giảm đau do ung thư: nhân sâm có tác dụng giống như nhóm opioid (tương tự morphine) giúp giảm đau nhanh.

– Phòng bệnh tim mạch, huyết áp và tiểu đường: nhân sâm giúp giảm cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi, làm hạ lượng đường trong máu (týp 2)

– Trong đời sống tình dục: nhân sâm giúp tăng kích thước của cơ quan sinh dục và tăng lượng tinh trùng, nhờ đó chữa được chứng rối loạn cương ở nam giới.

– Chống bệnh tật: tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch, giúp cơ thể chống bệnh tật và nhiễm trùng.

– Chữa rối loạn tiền mãn kinh: nhân sâm điều hòa cảm xúc và tác động này gia tăng khi phối hợp các vitamin và khoáng tố.

– Chống stress: nhân sâm làm giảm căng thẳng thần kinh, lo âu và chống trầm cảm.

Bên cạnh đó nhân sâm cũng có các tác dụng phụ

khi dùng lâu dài, không đúng liều lượng và không đúng chỉ định có thể khiến huyết áp tăng đột ngột, người run rẩy, đau đầu, mất ngủ, xuất huyết. Với những người có bệnh tim mạch hoặc đang dùng Digoxin, nhân sâm có thể làm sai lệch các kết quả xét nghiệm máu. Các hoạt chất saponosid trong nhân sâm có tính gây phá huyết, làm vỡ hồng cầu, gây chảy máu, vì vậy không nên dùng chung với các thuốc như Aspirin, Warfarin, Coumarine, các thuốc làm hạ đường huyết như insulin, các thuốc giảm đau hạ sốt như ibuprofen (Advil), naproxen (Aleve).

Không nên sử dụng cho thai phụ, người bị cao huyết áp, người bị lạnh bụng, tiêu chảy hoặc những người đang uống thuốc điều trị bệnh tâm thần. Những nghiên cứu gần đây trên phụ nữ cho thấy nhân sâm gây hiệu ứng tương tự estrogen do kích thích các hormone và các hóa chất khác có liên quan. Vài kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhân sâm làm tăng sinh các tế bào ung thư vú nên khi dùng phải hết sức thận trọng.

Liều dùng: 1- 2g củ tươi, 0,6-2g rễ khô, hoặc 200-600mg dạng bột hoặc dịch chiết xuất từ nhân sâm, 1-2 gói dạng trà sâm, hoặc lấy 1,5g rễ nhân sâm khô đun sôi trong 100ml nước khoảng 5-10 phút, lọc bỏ xác, có thể pha thêm mật ong hoặc các thảo dược khác để mùi vị hấp dẫn hơn, dùng dạng ngậm, ngâm rượu (ngày 5ml, chia 3 lần) hoặc hấp cơm. Các chuyên gia khuyến cáo chỉ dùng trong hai tuần rồi nghỉ hai tuần.Để chữa rối loạn cương, người ta còn bôi trực tiếp nhân sâm lên dương vật.

Thuốc bổ có nhiều loại nên chúng ta phải biết dùng sao cho thật hiệu quả, không nhất thiết phải mua loại đắt tiền. Nhiều người phối hợp nhân sâm và vi cá để ăn cho thật bổ dưỡng và mau khỏe, nhưng cũng cần chú ý đến thể trạng, tuổi tác, cơ địa của từng người và dùng liều lượng sao cho thích hợp. Điều quan trọng cần ghi nhớ: “thuốc là con dao hai lưỡi”, có tác dụng tốt vừa có hại, nên chúng ta phải tham khảo ý kiến của các thầy thuốc chứ không nên tự ý sử dụng các loại thuốc hay thức ăn bổ dưỡng.

Nhân sâm có công dụng làm đẹp gì?

Thời đại làm đẹp không phải mới bắt đầu từ khi các thương hiệu mỹ phẩm ra đời, từ hàng trăm, hàng ngàn năm trước, các quý bà, quý cô nơi hoàng thất cung điện đã có tâm lý làm sao để đẹp hơn, hoàn thiện hơn. Vô số câu chuyện giữ gìn nhan sắc làm đẹp từ vóc dáng đến tóc da, từ làn hơi tới nét mặt đã theo thời gian lưu truyền tới tận ngày nay.

Nhắc tới nhân sâm, dân gian không chỉ lưu truyền tác dụng tuyệt vời gần như có thể “cải tử hoàn sinh” của nó, người ta còn tỉnh táo nhắc nhau câu chuyện cười “đau bụng uống nhân sâm… tắc tử”. Để thấy rằng nhân sâm rất tốt, nhưng phải biết cách sử dụng, nếu không, có thể dẫn tới cái chết như thường. Và đương nhiên, với những mỹ nữ quyền quý trong cung, nhân sâm ắt là một vị nhất thiết phải có trong kho y dược mỹ phẩm của cung đình.

Truyền thuyết về nhân sâm

Có một truyền thuyết về nhân sâm như sau: “Thuở xưa, có một đền thờ được gọi là đền Vân Mộng trên ngọn núi Vân Mộng (nghĩa là Giấc mộng của mây) ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Trong đền có một vị sư phụ và một đồ đệ. Sư phụ đối xử với đồ đệ rất tàn nhẫn khiến cho vị sư trẻ trở nên xanh xao gầy yếu. Một ngày nọ, vị sư già rời khỏi đó và để đồ đệ làm việc một mình ở trong đền.

Một đứa trẻ mặc yếm đỏ không rõ tung tích xuất hiện để giúp vị sư trẻ. Kể từ đó, bất cứ khi nào vị sư già rời đi, nó cũng đến và giúp vị sư trẻ làm việc. Cứ khi nào vị sư già trở về, thì đứa trẻ lại biến mất. Thời gian trôi qua, vị sư già nhận thấy đệ tử hồng hào, khỏe mạnh và có thể hoàn thành mọi việc được giao. Vị sư già bối rối và nghĩ có cái gì đó thật là lạ. Ông ta gọi đồ đệ của mình đến và hỏi anh việc gì đang xảy ra.

Vị sư trẻ miễn cưỡng kể cho ông ta nghe sự thật. Vị sư già nghĩ: “Rất ít người sinh sống trên núi, vậy đứa trẻ yếm đỏ từ đâu đến nhỉ? Nó chắc hẳn phải là cây thảo dược huyền thoại (nhân sâm)”. Ông ta bèn lấy một sợi chỉ màu đỏ xâu vào cây kim và trao cho vị sư trẻ. Ông ta ra lệnh cho đồ đệ phải cắm cây kim vào chiếc yếm đỏ của đứa trẻ khi nó quay lại. Ngày hôm sau, vị sư già lại đi. Vị đồ đệ muốn kể cho đứa trẻ nghe chuyện gì đã xảy ra, nhưng anh ta quá sợ hãi không dám trái lời thầy. Cuối cùng anh ta cắm cây kim vào chiếc yếm đỏ của đứa trẻ khi nó vội vàng biến mất.

Sáng sớm hôm sau, vị sư già nhốt đồ đệ vào trong đền rồi cầm cuốc, lần theo sợi chỉ màu đỏ tìm đến một cây thông đỏ già. Nơi đó ông ta đã tìm thấy loài thảo mộc huyền thoại. Ông ta vô cùng sung sướng về khám phácủa mình khi cuốc lên được một củ nhân sâm lớn mang hình dạng một đứa bé. Vị sư già mang cây nhân sâm về ngôi đền và bỏ nó vào nồi nước. Sau đó, ông ta đè một cục đá lên nắp nồi, rồi gọi đồ đệ đến đun lửa nấu lên. Đúng lúc đó, ông ta lại phải rời khỏi ngôi đền vì nhận được lời mời gấp từ một người bạn mà ông ta không thể từ chối.

Trước khi đi, ông ta nghiêm khắc dặn dò vị sư trẻ: “Ngươi không được mở nắp trước khi ta trở lại”. Sau khi vị sư già rời đi, chiếc nồi không ngừng tỏa ra hương thơm vô cùng quyến rũ. Vị đồ đệ hết sức tò mò. Anh ta bỏ ngoài tai lời dặn dò của sư phụ, gỡ cục đá xuống và mở nắp nồi. Hương thơm quyến rũ khiến anh ta không thể không bẻ một miếng ăn thử. Nó có nhiều nước và rất ngọt. Thế là, quên hết mọi chuyện trên đời, vị sư trẻ ăn hết củ nhân sâm và nước canh ấy. Vừa lúc đó vị sư già trở về. Vị đồ đệ quá lo sợ không biết phải làm sao bèn bỏ chạy về phía ngôi đền. Đột nhiên anh ta cảm thấy đôi chân của mình nhẹ bẫng, rồi bay lên trời. Khi vị sư già nhìn thấy cảnh tượng đó, ông ta biết rằng đồ đệ của mình đã ăn hết nhân sâm rồi…”

Từ truyền thuyết nhân sâm đã được đưa vào cấm cung

Với những mỹ nữ quyền quý trong cung mà chúng ta đã có dịp nhắc tới như Dương Quý Phi, Từ Hi Thái Hậu, nhân sâm ắt là một vị nhất thiết phải có trong kho y dược mỹ phẩm của cung đình. Mỗi sáng sớm, Dương Quý Phi dùng một ít canh sâm. Cách này các triều đại cung đình và các nhà giàu có thường dùng. Theo y án của cung đình thời Thanh ghi lại, mỗi buổi sáng sớm, Từ Hi Thái Hậu đều ngậm một chỉ nhân sâm. “Thần nông bản thảo kinh” liệt nhân sâm vào vị thuốc thượng phẩm, cho rằng nhân sâm có công năng bổ ngũ tạng, an tinh thần, sáng mắt, khai tâm ích trí”.

Hiện nay con người đã nghiên cứu và chứng minh rằng nhân sâm có thể nâng cao sức khỏe, tăng sức đề kháng để đối phó với các loại bệnh tật, tăng cường khả năng thích nghi với sự thay đổi thời tiết. Nhân sâm thường được dùng với lượng ít để làm khỏe cơ thể. Sách sử ghi lại rằng hàng ngày khi vua Tự Quang đến vấn an Từ Hi Thái Hậu đều phải kiểm tra lại xem nhân sâm có đủ dùng hay không, từ đó mà suy thì biết cung đình đời Thanh coi trọng việc dùng nhân sâm thế nào. Dương Quý Phi có lệnh cho người đem trân châu, bạch ngọc, nhân sâm nghiền thành bột, trộn đều với bột sắn dây thượng hạng, ban đêm dùng thoa mặt, thành một lớp mặt nạ, rửa đi trước khi đi ngủ.

Ưu và nhược điểm của sâm tươi Hàn Quốc? Nhân sâm có công dụng làm đẹp gì? 1

Mặt nạ với bột thuốc hỗn hợp này không những có thể khử vàng, làm cho da dẻ tươi mịn, mềm mại và dồi dào sức đàn hồi, mà còn có thể hút các chật bụi bẩn trong lỗ chân lông và tế bào chết trên da, làm sạch và duy trì da dẻ trắng nõn. Một nhân vật tiêu biểu nữa cũng coi nhân sâm là vị thuốc làm đẹp không thể thiếu, đó là Nhân Duệ Vương Hậu ở xứ Cao Ly. Truyền rằng vào năm 1052, thê tử của Văn Tông (1019- 1046, trị vì 1046-1083) – quốc vương thứ 11 của Cao Ly (Triều Tiên) là Nhân Duệ Vương Hậu (In-ye Wanghu).

Nàng là con gái trưởng của Thượng thư Bộ Lễ Lý Tử Uyên (Yi Jayeon). Ngày được tuyển làm vươn ghậu, nàng không khỏi lo lắng bất an trước việc làm quen từ đầu với các phép tắc luật lệ trong cung, khiến cho nàng mất ngủ, nước da trắng tinh như ngọc trở nên xanh tái. Vì quá căng thẳng và áp lực mà da mặt nàng mọc mụn, để lại những vết nám, sẹo. Tình trạng này khiến cho Bình Kính Đại Phi rất lo lắng tìm cách để Nhậm Duệ khoan tâm, bèn dùng bí thuật chế ra phương thuốc cấp cứu làn da đem đến vương thất cho nàng, đó là một lọ cao bảo vệ da. Đương nhiên, thành phần công hiệu nhất trong đó chính là nhân sâm Cao Ly.

Bí quyết làm đẹp da từ nhân sâm

Công hiệu làm đẹp da của nhân sâm từ lâu đã được giới học thuật uy tín khẳng định, trong nhân sâm có thành phần rất công hiệu là sanopin. Saponin là một glicozit tự nhiên thường gặp trong nhiều loài thực vật, chính thành phần này làm nên giá trị của nhân sâm. Sâm càng có nhiều thành phần này thì càng tốt. Vì vậy, dù có nhiều nước trên thế giới trồng sâm nhưng sâm của Hàn Quốc và Triều Tiên được đánh giá là tốt nhất.

Trong sâm tươi có khoảng 10 thành phần saponin nhưng sau khi qua các công đoạn sấy khô thành hồng sâm và bạch sâm, nhân sâm Hàn Quốc có thể có tới 35 thành phần saponin. Nhân sâm được xếp vào loại đầu tiên trong 4 loại dược liệu quý của Đông y, đó là sâm, nhung, quế, phụ. Nhân sâm có tên khoa học là (Panax ginseng C. A. Mey.), họ nhân sâm (Araliaceae), họ (ngũ gia bì). Trên thực tế do cách chế biến khác nhau, người ta có được các sản phẩm chế của nhân sâm khác nhau, như hồng sâm, bạch sâm, đại lực sâm…

Nhân sâm được Đông y ghi vào loại “thượng phẩm”, nghĩa là có tác dụng tốt mà không gây ra độc tính, được ghi vào đầu vị của dòng “bổ khí” với những công năng tuyệt vời: đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân, định thần, ích trí… Người lớn, có thể dùng riêng, ngày 6 – 8g, dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc, hoặc phối hợp với các vị thuốc khác: nhân sâm 8g; bạch truật, bạch linh, cam thảo, mỗi vị 4-6g, ngày một thang, uống liền 2-3 tuần lễ.

Cũng có thể sử dụng dưới dạng rượu sâm (40g sâm, thái lát mỏng ngâm trong 1 lít rượu trắng 30-35 độ trong 3 – 4 tuần là có thể dùng được. Tiếp tục ngâm lần 2 với  0,5 lít rượu trong 2-3 tuần lễ nữa). Ngày có thể dùng  2 – 3  lần, mỗi lần 30 -50ml. Uống trước các bữa ăn, hoặc vào các buổi tối. Với trẻ em gầy còm chậm lớn, yếu mệt, biếng ăn, có thể dùng với lượng nhỏ hơn, 2 – 4 g/ngày, dưới dạng thuốc hãm.

Tuy nhiên, khi sử dụng nhân sâm cần có những lưu ý đặc biệt, nhất là với núm rễ của củ sâm (còn gọi là lô sâm). Để giữ được các hoạt chất khi chế biến và để tạo dáng cho nhân sâm (giống như cái đầu người), người ta đã giữ nó lại. Lô sâm, không có tác dụng bổ mà còn gây ra cảm giác buồn nôn. Do đó cần cắt bỏ đi, trước khi sử dụng. Người có các triệu chứng đau bụng thuộc “thể hàn”, đau bụng “tiết tả”, tức đau bụng đi ngoài, đầy bụng, trướng bụng…, nếu dùng nhân sâm sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, những người cao huyết áp cũng không nên dùng nhân sâm; những người hay mất ngủ tránh dùng sâm vào buổi chiều và buổi tối. Lúc uống nhân sâm không nên uống trà và ăn củ cải.

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.